Đối thoại trực tuyến với chủ đề "Chính sách tái cơ cấu ngành nông nghiệp"
Thực hiện chỉ đạo của UBND tỉnh, vào 9h00 ngày 27/6, Cổng TTĐT tỉnh Lào Cai tổ chức Chương trình Đối thoại trực tuyến giữa các tổ chức, cá nhân với Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Công ty TNHH MTV Traphaco Sa Pa về chủ đề “Chính sách tái cơ cấu ngành nông nghiệp”.
Chương trình đối thoại tập trung vào các vấn đề:
- Tháo gỡ vướng mắc trong sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh
- Giải đáp chính sách khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2017 – 2020 tại Quyết định 143/2016
- Định hướng phát triển ngành nông nghiệp Công nghệ cao trong thời gian tới
Chương trình tiếp nhận câu hỏi đến 9h45 ngày 27/6/2017 tại địa: doithoai.laocai.gov.vn; thư điện tử: doithoailc@gmail.combanbientap@laocai.gov.vn hoặc qua số điện thoại: 0214.3828.966

Dưới đây là nội dung chương trình:
  • Người hỏi: Ban Biên tập
    Ngày 10 tháng 6 năm 2013, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 899/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững” vậy để thực hiện đề án trên có hiệu quả, tỉnh Lào Cai đã có những chính sách gì, thưa ông?
    Nguyễn Anh Tuấn - Giám đốc Sở Nông nghiệp & PTNT
    Triển khai thực hiện Đề án “Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững” theo Quyết định số 899/QĐ-TTg ngày 10/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ, bên cạnh các chính sách của Trung ương đã ban hành như Nghị định 210/2013/NĐ-CP ngày 19/12/2013 về chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn; Nghị định 55/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015 về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn... tỉnh Lào Cai đã ban hành các chính sách khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp như: 
    Quyết định số 55/2013/QĐ-UBND ngày 20/12/2013 về chính sách hỗ trợ việc áp dụng quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt trên địa bàn tỉnh Lào Cai giai đoạn 2014-2020;
    Quyết định 38/2014/QĐ-UBND ngày 25/9/2014 hỗ trợ phát triển trang trại, cơ sở chăn nuôi công nghiệp, cơ sở giết mổ tập trung, phát triển lâm nghiệp;
    Quyết định số 44/2015/QĐ-UBND ngày 25/9/2015 về chính sách đặc thù khuyến khích, ưu đãi đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh Lào Cai, giai đoạn 2015-2020;
    Quyết định số 14/2016/QĐ-UBND ngày 08/3/2016 về chính sách phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Lào Cai giai đoạn 2016-2020;
    Để phù hợp với tình hình thực tế, đặc biệt là đáp ứng yêu cầu Tái cơ cấu kinh tế nông, lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Lào Cai giai đoạn 2016-2020 theo tinh thần Nghị quyết số 01-NQ/TU ngày 27/11/2015 của BCH đảng bộ tỉnh về 4 chương trình công tác, 19 đề án trọng tâm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV, nhiệm kỳ 2015-2020. 
    Trên cơ sở kế thừa, bổ sung các chính sách hiện có, tỉnh Lào Cai đã ban hành Quyết định 143/2016/QĐ-UBND ngày 20/12/2016 về chính sách khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản trên địa bàn tỉnh, giai đoạn 2017-2020, tập trung vào hỗ trợ sản xuất hàng hóa, công nghệ cao như:
     - Hỗ trợ trồng, chế biến chè chất lượng cao; sản xuất tiêu chuẩn VietGAP; sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao (Tích tụ ruộng đất; Trồng rau hoa ứng dụng công nghệ cao); 
    - Hỗ trợ phát triển các sản phẩm đặc thù của địa phương như: Sản xuất lúa Séng Cù, Khẩu Nậm Xít, nếp Thẩm Dương; Mận Tam Hoa, mận Tả Van, lê VH6, đào Pháp chín sớm; Atiso, Đương Quy, Tam thất, Sa Nhân tím; cây gia vị ớt. 
    - Hỗ trợ phát triển lợn Đen bản địa, giống trâu Bảo Yên, giống bò Vàng vùng cao; phòng phòng, chống dịch bệnh; sản xuất giống vật nuôi; phát triển trang trại, cơ sở chăn nuôi công nghiệp, cơ sở giết mổ tập trung;
     - Hỗ trợ Nuôi cá lồng trên sông, hồ chứa;
    - Hỗ trợ trồng rừng, bảo vệ rừng, chế biến gỗ rừng trồng.


  • Người hỏi: Ban Biên tập
    Thưa giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT, đề án Tái cơ cấu ngành nông nghiệp có nêu rõ: Phát triển chăn nuôi tập trung, trang trại, gia trại; hình thành các vùng chăn nuôi xa thành phố… Tuy nhiên thực tế chăn nuôi gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh vẫn ở quy mô nhỏ, phân tán chiếm trên 80% số hộ chăn nuôi. Cùng với đó điện cơ sở vật chất, trình độ kỹ thuật chăn nuôi hạn chết, đặc biệt kiến thức về phòng chống dịch bệnh. Vậy đâu là nguyên nhân và hướng giải quyết ra sao?
    Nguyễn Anh Tuấn - Giám đốc Sở Nông nghiệp & PTNT
    Thực hiện đề án Tái cơ cấu ngành nông nghiệp, Sở Nông nghiệp và PTNT đã tập trung triển khai tái cơ cấu ngành chăn nuôi theo hướng: 
    Vùng thấp: Chuyển đổi dần từ phương thức chăn nuôi nông hộ sang phương thức chăn nuôi gia trại, trang trại, công nghiệp và bán công nghiệp. Phát triển chăn nuôi nông hộ theo hướng chăn nuôi công nghiệp, có kiểm soát, áp dụng các tiến bộ kỹ thuật, an toàn sinh học, giảm thiểu ô nhiễm môi trường.
     Vùng cao: Khuyến khích phát triển chăn nuôi trâu, bò, ngựa; lợn, gia cầm bản địa theo hướng hữu cơ.
     Kết quả đến nay toàn tỉnh đã phát triển được 333 trang trại chăn nuôi (tăng    289 trang trại so với năm 2010), 07 cơ sở chăn nuôi ứng dụng công nghệ cao và hàng ngàn gia trại chăn nuôi theo hướng công nghiệp (vùng trọng điểm là huyện Bảo Thắng). Năng suất và sản lượng chăn nuôi tăng nhanh, tỷ trọng chăn nuôi trong cơ cấu ngành nông nghiệp đạt 41,82%. 
    Tuy nhiên, để đảm sinh kế cho các hộ nông dân, Ngành nông nghiệp vẫn quan tâm chỉ đạo, hướng dẫn, hỗ trợ chăn nuôi nông hộ ở vùng thấp theo hình thức bán công nghiệp, vùng cao phát triển chăn nuôi truyền thống phù hợp với điều kiện của các hộ dân, để sử dụng nguồn thức ăn sẵn có tạo sản phẩm đặc sản, hữu cơ có giá trị kinh tế và khả năng cạnh tranh cao (các sản phẩn này ít chịu tác động bất lợi của thị trường); 
    Hiện nay, do trình độ dân trí của người dân vùng cao còn thấp, phong tục tập quán canh tác truyền thống từ lâu đời, mặt khác do điều kiện kinh tế của các hộ chăn nuôi còn khó khăn, nên các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán vẫn chiếm 80% (Cả nước tỷ lệ 65%) do chưa có điều kiện đầu tư làm chuồng trại và chăn nuôi chủ yếu phục vụ nhu cầu của gia đình. Để giúp các hộ chăn nuôi tiếp cận, áp dụng tiến bộ kỹ thuật chăn nuôi, chủ động phòng chống dịch bệnh, Sở Nông nghiệp và PTNT tiếp tục phối hợp với các ngành liên quan triển khai thực hiện chính sách hỗ trợ phòng chống dịch bệnh (hỗ trợ vac xin, hóa chất khử trùng tiêu độc), giảm thiểu ô nhiễm môi trường (hướng dẫn sử dụng chế phẩm vi sinh khử mùi và ủ phân...), hướng dẫn các biện pháp chăn nuôi đảm bảo an toàn thực phẩm; tổ chức các lớp tập huấn, đào tạo nghề chăn nuôi thú y; hướng dẫn các địa phương triển khai công tác tiêm phòng, giám sát dịch; tuyên truyền thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, qua các tổ chức hội, đoàn thể để người dân hiểu và tự giác thực hiện tiêm phòng vac xin cho đàn vật nuôi. 


  • Người hỏi: ngoclam.trithucxanh@gmail.com và hokieuchinh910@gmail.com
    Hiện nay trên địa bàn tỉnh có khoảng 756ha sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Có ý kiến cho rằng sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao cần phải những người có trình độ khoa học kỹ thuật và chỉ có doanh nghiệp mới làm được. Vậy ông đánh giá quan điểm này như thế nào?
    Nguyễn Anh Tuấn - Giám đốc Sở Nông nghiệp & PTNT
    Phần trả lời của ông: Nguyễn Anh Tuấn - Giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT
    Trước hết phải khẳng định nông dân hoàn toàn có thể chủ động sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, đây là thành phần nòng cốt, vì nông dân có lao động và đất đai; thực tế tại tỉnh Lâm Đồng, hiện nay đạt trên 50.000ha sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao (trong đó 90% do nông dân thực hiện, Doanh nghiệp chỉ chiếm 10%). Đối với Lào Cai hiện nay diện tích sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao do Doanh nghiệp đầu tư trực tiếp cũng chỉ chiếm 30% (Công ty Hoàng Lan 282ha, Hoa Lợi 20ha, các Doanh nghiệp khác 10ha) còn lại là liên kết qua Doanh nghiệp, HTX và hộ nông dân, hoặc do nông dân tự đầu tư. Tuy nhiên để sản xuất công nghệ cao thì nông dân phải có vốn, có kinh nghiệm quản lý, kinh nghiệm sản xuất, tâm huyết với nông nghiệp, biết đầu tư và sử dụng đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật để áp dụng các tiến bộ kỹ thuật mới trong sản xuất. Ngoài ra, để phát triển sản xuất công nghệ cao hiệu quả thì nông dân phải liên kết chặt chẽ với Doanh nghiệp, HTX, thực hiện nghiêm ngặt các quy trình kỹ thuật, hợp đồng liên kết bền vững, đảm bảo số lượng, quy cách, chất lượng sản phẩm, đáp ứng yêu cầu tiêu thụ. 
    Luật Công nghệ cao số 21/2008/QH12 ngày 13/11/2008 do Quốc hội khóa XII ban hành quy định: “Luật này áp dụng đối với tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động công nghệ cao tại Việt Nam”. Do đó, có thể khẳng định rằng: Doanh nghiệp công nghệ cao và Doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao là hạt nhân sản xuất sản phẩm công nghệ cao, ứng dụng dịch vụ công nghệ cao, có chức năng nghiên cứu và phát triển công nghệ cao, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật mới và liên kết với nông dân để tổ chức sản xuất đại trà. 
    Lào Cai cũng đã ban  hành Quyết định số 967/QĐ-UBND, ngày 6/4/2016 Quy định tạm thời về tiêu chí sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đối với một số cây trồng chủ lực trên địa bàn tỉnh Lào Cai.

    Phần trả lời của ông: Đỗ Tiến Sỹ - Giám đốc Công ty TNHH MTV Traphaco

    Theo quan điểm của chúng tôi:

    Nếu hội tụ được các điều kiện như: Vốn, nguồn nhân lực, hệ thống quản lý, cơ sở vật chất và hệ thống phân phối thì doanh nghiệp hay cá nhân đều có thể phát triển sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.
    Theo những yếu tố trên thì doanh nghiệp có những lợi thế nhất định.
    -  Về nguồn vốn: Đầu tư nông nghiệp công nghệ cao cần nguồn vốn đầu tư lớn.
    -  Về nguồn nhân lực: Cần được đào tạo để có kiến thức và kỹ năng nhất định để vận hành hệ thống sản xuất công nghệ cao.
    -  Về hệ thống quản lý: Doanh nghiệp có lợi thế trong việc áp dụng các hệ thống quản lý hiện đại: GACP – WHO, ISO.
    -  Về hệ thống phân phối: Để phát triển bền vững, doanh nghiệp sẽ có lợi thế về hệ thống phân phối và xây dựng thương hiệu cho sản phẩm. Yếu tố đầu ra được coi là một trong các yếu tố đóng vai trò quyết định trong sản xuất nông nghiệp. Do đó yếu tố thương hiệu là rất quan trọng.
    -  Với những thuận lợi về nguồn nhân lực, năng lực tài chính, cơ sở vật chất, hệ thống phân phối,.... Doanh nghiệp có khả năng tiếp nhận,ứng dụng và phát triển nông nghiệp công nghệ cao nhanh hơn và với quy mô lớn hơn, phát huy tối đa ưu thế của sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.

  • Người hỏi: Ban Biên tập
    Thực trạng công tác triển khai sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đối với một số địa phương còn lúng túng, chưa chủ động xây dựng kế hoạch và tổ chức triển khai thực hiện các dự án trọng tâm thuộc Đề án thành phần. Vậy đâu là nguyên nhân thưa ông?
    Nguyễn Anh Tuấn - Giám đốc Sở Nông nghiệp & PTNT
    Chủ trương sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao mới được triển khai thực hiện trên địa bàn tỉnh Lào Cai trong 02 năm gần đây nên một số địa phương còn lúng túng, chưa chủ động xây dựng kế hoạch và tổ chức triển khai thực hiện nguyên nhân do: 
    Sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao là lĩnh vực mới nên nhiều địa phương chưa thông suốt, nhận thức về sản xuất nông nghiệp công nghệ cao của một số cán bộ, người dân còn hạn chế, mạng lưới cán bộ còn mỏng, trình độ chưa đáp ứng được yêu cầu; Cấp ủy chính quyền một số cơ sở chưa thực sự vào cuộc, chưa quan tâm nhiều đến nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; Thiếu nguồn lao động kỹ thuật cao, cán bộ kỹ thuật chuyên ngành, chuyên gia có trình độ chuyên môn cao, người sản xuất được đào tạo, bồi dưỡng chưa nhiều.
    Bên cạnh đó trên địa bàn tỉnh chưa có đơn vị tư vấn chuyên nghiệp về nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; dịch vụ cung ứng vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trên địa bàn tỉnh và các tỉnh lân cận chưa hình thành.  Công tác phối hợp tại một số địa phương với các sở, ngành vẫn chưa chặt chẽ, chưa chưa chủ động xây dựng kế hoạch và tổ chức triển khai thực hiện các dự án trọng tâm thuộc Đề án thành phần, chưa đẩy mạnh liên kết bền vững giữa nông dân - doanh nghiệp nên việc mở rộng sản xuất ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp tại một số địa phương còn chậm. 
    Đặc biệt hiện nay, thị trường cơ bản chưa phân biệt được sản phẩm nông nghiệp công nghệ cao nên giá cả thấp, không cao hơn sản phẩm sản xuất thông thường dẫn đến hiệu quả sản xuất công nghệ cao còn thấp, không khuyến khích được đầu tư sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.


  • Người hỏi: Nguyễn Quang Huy - Bảo Thắng – Lào Cai
    Thưa ông giá thịt lợn hơi xuất chuồng hiện nay giảm thập ở mức kỷ lục trong 5 năm gần đây đã làm cho người chăn nuôi thua lỗi từ 1,5 – 2 triệu đồng/con lơn lai hoặc lơn ngoại. Do bị thua lỗ nên nhiều cơ sở, hộ chăn nuôi khó có khả năng phục hồi sản xuất, là người đứng đầu ngành của tỉnh theo ông trước mắt chúng ta cần phải làm gì để họ có thể khôi phục sản xuất và không ảnh hưởng đến ngành chăn nuôi của tỉnh về sau?
    Nguyễn Anh Tuấn - Giám đốc Sở Nông nghiệp & PTNT
    Để hỗ trợ và tạo điều kiện cho người chăn nuôi khôi phục sản xuất cần thực hiện một số giải pháp sau:
    - UBND các huyện, thành phố, các ngành chức năng liên quan quản lý biên giới, tạo điều kiện thuận lợi để xuất khẩu lợn sang Trung Quốc, kể cả lợn trong tỉnh và lượng lợn thịt từ các tỉnh qua địa bàn tỉnh để xuất qua biên giới.
    - Các Ngân hàng và các tổ chức tín dụng cùng chính quyền địa phương thực hiện hỗ trợ người chăn nuôi qua việc khoanh nợ, giãn nợ, hỗ trợ một phần lãi suất vốn vay; tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ sở, hộ chăn nuôi vay vốn đầu tư sản xuất.
    - Các Sở, ngành quan tâm hỗ trợ các doanh nghiệp, hợp tác xã thực hiện các hoạt động xúc tiến thương mại, đăng ký nhãn hiệu, xây dựng thương hiệu, chứng nhận các chuỗi sản phẩm chăn nuôi an toàn, chăn nuôi hữu cơ để tạo điều kiện thuận lợi cho người tiêu dùng nhận diện sản phẩm an toàn, có khả năng truy suất nguồn gốc, yên tâm sử dụng sản phẩm. 
    - Đẩy mạnh xây dựng các chuỗi liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi an toàn, trong đó các doanh nghiệp là đầu tàu hỗ trợ người chăn nuôi ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, bao tiêu sản phẩm. 
    Bên cạnh đó để ngành chăn nuôi của tỉnh phát triển ổn định, cần chỉ đạo tập trung thực hiện tái cơ cấu ngành chăn nuôi theo vùng, chuyển đổi cơ cấu vật nuôi, sản phẩm trên từng vùng, từng địa phương để vừa phát huy lợi thế so sánh, vừa quản lý sản xuất theo quy hoạch, theo chuỗi giá trị và phù hợp với cung cầu thị trường.
    Thực hiện rà soát đàn lợn nái sinh sản, loại thải những con kém chất lượng (giảm khoảng 10% đàn nái). Tập trung phát triển chăn nuôi các loại vật nuôi đặc sản bản địa, chăn nuôi hữu cơ để nâng cao chất lượng và đa dạng hóa sản phẩm tránh rủi ro. Mở rộng quy mô chăn nuôi lợn đen bản địa theo hướng hữu cơ; nhân rộng các mô hình chăn nuôi lợn bằng các loại thức ăn bổ sung thảo dược... để tạo các sản phẩm đặc sản có khả năng cạnh tranh và giá trị kinh tế cao, cung ứng cho thị trường nội tỉnh và các thành phố lớn.


  • Người hỏi: Phạm Đình Khánh - Bát Xát – Lào Cai
    Thưa ông, có ý kiến cho rằng người dân không còn hào hứng với việc trồng rừng như hiện nay. Do đó nên thay đổi từ những cây lấy gỗ sang nhưng cây ăn quả: Táo mèo, lê, mận, quýt … vừa có thể lấy gỗ, đem lại hiệu quả kinh tế cao. Ông nghĩ sao?
    Nguyễn Anh Tuấn - Giám đốc Sở Nông nghiệp & PTNT
    Sở Nông nghiệp và PTNT đã tham mưu cho UBND tỉnh ban hành Kế hoạch thực hiện tái cơ cấu ngành lâm nghiệp, trong đó có xác định cơ cấu cây trồng lâm nghiệp; nhất là trồng rừng kinh tế, đưa một số loại cây đa mục đích vào phát triển, vừa đem lại hiệu quả kinh tế, vừa phủ xanh đất trống đồi núi trọc, góp phần tăng tỷ lệ che phủ rừng, bảo vệ môi trường gắn với phát triển bền vững, nên có thể khẳng định người dân Lào Cai đang rất hào hứng với việc trồng rừng với cơ cấu trồng rừng gỗ lớn, trồng các  loại cây đa mục đích có giá trị kinh tế cao. Ngành Nông nghiệp ủng hộ việc đổi từ cây lấy gỗ sang cây ăn quả như Táo mèo, lê, mận, quýt ... như cây quế là cây đa mục đích, bà con có thể tỉa lá, tỉa cây con (giá từ 2.000 đến 3.000 đ/kg), vỏ quế (giá khoảng 40.000 đ/kg) để bán nấu tinh dầu; Gỗ quế (giá từ 1,5 đến 3 triệu đồng/m3); Cây táo mèo cũng nhanh cho thu hoạch, chỉ sau 3 - 4 năm đã cho thu hoạch quả, giá từ 20.000 đ - 30.000 đ/kg.
    Mặt khác không thể phủ nhận những loài cây trên vẫn là rừng và có giá trị bảo vệ môi trường rất tốt. Tuy nhiên để việc chuyển đổi cây lấy gỗ sang cây ăn quả mang lại hiệu quả, phù hợp với quy hoạch và điều kiện thực tế, bà con chỉ nên chọn một số loài cây dễ chăm sóc nhưng lại có sản phẩm phụ, hoặc đa dạng thu nhập như: Quế (lấy lá, vỏ, gỗ), Táo mèo (lấy quả), Thông (lấy nhựa), trẩu (lấy quả) v.v… tùy đặc thù tiểu khí hậu từng vùng.
    Năm 2016, kế hoạch giao trồng 7.150 ha, nhưng toàn tỉnh đã thực hiện trồng rừng đạt 9.159 ha, vượt 28% (2.009 ha). Năm 2017, kế hoạch giao bằng năm 2016 là 7.150 ha, đến nay chưa hết 6 tháng đã trồng được 3.308 ha, bằng 234,4 % so với cùng kỳ và đạt 46,3% kế hoạch năm. Qua thống kê việc trồng rừng theo vùng quy hoạch như cây quế quy hoạch đến năm 2025 là 25.000 ha. Tuy nhiên, đến hết năm 2016 đã thực hiện 19.500 ha, đạt 78% kế hoạch đến năm 2025. Mặt khác, ở nhiều nơi bà con đã và đang tranh tận dụng đất trống để trồng cây phân tán, năm 2016 trồng được 427.000 cây phân tán, tương đương 427 ha rừng trồng.


  • Người hỏi: Nguyễn Tuấn Anh - Xóm Mới – Mường Khương – Lào Cai
    Hiện nay một số xã của huyện Mường Khương đang tích cực trồng một số cây ăn quan và dược liệu như: Quýt và Sa nhân một cách tự phát. Nhiều người tỏ ra băng khoăn cho việc trồng ồ ạt này sẽ dẫn đến tình trạng cung vượt quá cầu dẫn đến tình trạng mất giá một số sản phẩm hiện nay? Ông đánh giá thế nào về vấn đề này?
    Nguyễn Anh Tuấn - Giám đốc Sở Nông nghiệp & PTNT
    Huyện Mường Khương thuộc vùng Quy hoạch phát triển cây ăn quả và cây dược liệu, do đó việc người dân chủ động sản xuất các cây trồng trên là đúng chủ trương, định hướng của ngành và của tỉnh. Tuy nhiên, việc phát triển sản xuất các cây trồng một cách tự phát không theo quy hoạch sẽ dẫn đến tình trạng cung vượt cầu, gây khó khăn trong khâu tiêu thụ, bị tư thương ép giá khi được mùa làm giảm hiệu quả và giá trị kinh tế. Do đó, để phát triển sản xuất hiệu quả, bền vững cần thực hiện một số nội dung sau:
    - Các cơ quan quản lý tại địa phương, đặc biệt là chính quyền xã cần quản lý tốt việc thực hiện theo đúng định hướng quy hoạch, kế hoạch của tỉnh, huyện đã được ban hành. Tuyên truyền, vận động và định hướng cho người dân về chủ trương, chính sách của nhà nước, nhu cầu của thị trường để phát triển kinh tế.
    - Tăng cường vận động người dân tham gia liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm với các doanh nghiệp, HTX, tổ hợp tác; tuân thủ đúng quy trình kỹ thuật, cam kết sản xuất sản phẩm đảm bảo tiêu chuẩn về an toàn vệ sinh thực phẩm, tạo ra sản phẩm có mẫu mã, chất lượng tốt đáp ứng yêu cầu tiêu thụ.
    - Quan tâm đến tuyên truyền quảng bá và xây dựng các thương hiệu, chỉ dẫn địa lý đối với các sản phẩm đặc thù tại địa phương để mở rộng sản xuất, đáp ứng nhu cầu thị trường.
    - Các cơ quan quản lý nhà nước cần tăng cường thông tin định hướng thị trường, người dân cũng cần nắm bắt thông tin kịp thời nhu cầu của thị trường để có kế hoạch sản xuất phù hợp.


  • Người hỏi: Ban Biên tập
    Sau 3 năm triển khai đề án “Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững”, Từ góc độ quản lý NN và PTNT, xin ông đánh giá tác động của tái cơ cấu nông nghiệp đối với lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi trên địa bàn tỉnh?
    Nguyễn Anh Tuấn - Giám đốc Sở Nông nghiệp & PTNT
    Tái cơ cấu ngành nông nghiệp là chủ trương đúng đắn, cần thiết, trong bối cảnh quốc tế và trong nước có nhiều biến chuyển như hiện nay; để hòa nhập bắt buộc chúng ta phải cơ cấu, tổ chức lại sản xuất nhằm phát huy hiệu quả tiềm năng đất đai, lợi thế của địa phương, biến những thế mạnh đó thành giá trị cụ thể; đặc biệt với Lào Cai - tỉnh có nhiều điều kiện để phát triển nông nghiệp đặc thù, có tiềm năng du lịch nông nghiệp sinh thái và nằm trên giao lộ ASEAN-Trung Quốc, là cửa ngõ tiếp giáp với thị trường rộng lớn Trung Quốc.
    Sau 03 năm thực hiện tái cơ cấu, ngành nông nghiệp tỉnh Lào Cai đã đạt được một số kết quả nổi bật sau: Sản xuất nông nghiệp phát triển ổn định và có bước tăng trưởng cao, bình quân trên 6%/năm; Cơ cấu nội ngành nông nghiệp tiếp tục chuyển dịch đúng hướng, giá trị sản xuất chăn nuôi tăng 7,25% so với năm 2013, chiếm 41,82% cơ cấu ngành nông nghiệp năm 2016. 
    Sản xuất nông nghiệp hàng hoá, công nghệ cao được đẩy mạnh thông qua ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất như: Canh tác lúa cải tiến SRI, xây dựng cánh đồng 01 giống, … Tổng sản lượng lương thực năm 2016 đạt 293,8 nghìn tấn (tăng 23,6 nghìn tấn so với năm 2013) góp phần đảm bảo an ninh lương thực, ổn định cuộc sống cho nông dân nông thôn và công tác xoá đói giảm nghèo của tỉnh; Các dự án sản xuất nông nghiệp hàng hóa tiếp tục được triển khai tích cực hiệu quả, từng bước hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung gắn với ứng dụng CNC vào sản xuất như: Lúa chất lượng cao, rau an toàn, dược liệu, cây ăn quả, chè VietGap.... đưa  giá trị sản phẩm trên đơn vị canh tác đạt 56,9 triệu đồng/ha, tăng 12,42 triệu đồng/ha so với năm 2013.
    Chăn nuôi phát triển mạnh, mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng, hình thành các vùng chăn nuôi tập trung, theo hình thức trang trại, phương thức công nghiệp, sử dụng giống tốt, thức ăn công nghiệp, đảm bảo vệ sinh môi trường và an toàn dịch bệnh (đã có 333 trang trại chăn nuôi, 07 cơ sở chăn nuôi ứng dụng công nghệ cao và hàng ngàn gia trại) đã tác động làm nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả chăn nuôi. Tăng trưởng đàn đạt trên 2%/năm, chăn nuôi hàng hóa phát triển mạnh, sản lượng thịt hơi tăng 1,8 lần so với năm 2013, đạt 59.202 tấn 2016. Sản xuất chăn nuôi tại chỗ cơ bản đã đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng của tỉnh và đã có sản phẩm hàng hoá xuất ra ngoài tỉnh; hàng năm xuất bán ra ngoài tỉnh khối lượng lớn gia súc, gia cầm với trên 7.000 con trâu, bò, ngựa và hàng chục ngàn con gia cầm, tổng lượng thịt hơi xuất ra ngoài tỉnh trên 1.800 tấn. 
    Đặc biệt Tái cơ cấu ngành nông nghiệp đã được gắn kết chặt chẽ với Chương trình xây dựng nông thôn mới được người dân hưởng ứng tích cực và đã đạt được nhiều kết qủa quan trọng như đã nêu trên, góp phần quan trọng trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh; đến hết năm 2016 đã có 28/143 xã hoàn thành NTM, đạt 19,5% (cả nước đạt 25,07%), số tiêu chí bình quân/xã đạt 9,92 tiêu chí/xã (cả nước 13,5 tiêu chí).


  • Người hỏi: Ban Biên tập
    Thực tế, ở một số địa phương trên địa bàn tỉnh đã có những mô hình đầu tư vào sản xuất nông nghiệp sạch, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao như trồng hoa, rau sạch, chuối mô, nuôi trâu, bò thương phẩm… nhưng số lượng còn ít, chưa phổ biến. Nhiều doanh nghiệp chưa mạnh dạn đầu tư, còn chần chừ chờ đợi chính sách... Thưa ông Nguyễn Anh Tuấn - Giám đốc sở NN và PTNT, vướng mắc trong tái cơ cấu nông nghiệp là gì?
    Nguyễn Anh Tuấn - Giám đốc Sở Nông nghiệp & PTNT
    Bên cạnh những kết quả đã đạt được trong tái cơ cấu ngành nông nghiệp nông nghiệp, thì những mô hình đầu tư vào sản xuất nông nghiệp sạch, nông nghiệp CNC chưa nhiều, nhiều doanh nghiệp chưa mạnh dạn đầu tư do còn những vướng mắc như: 
    - Sản xuất nông nghiệp sạch, nông nghiệp CNC cần vốn đầu tư lớn, giá cả đầu vào không ổn định, tăng cao; biến đổi khí hậu, thiên tai dịch bệnh ngày một khắc nghiệt hơn; địa hình phức tạp cộng với hạ tầng chưa phát triển; nhu cầu tiêu thụ sản phẩm nông sản, thị hiếu tiêu dùng biến động liên tục nên sản xuất nông nghiệp có độ rủi ro cao. 
    - Sự bất ổn định của thị trường nông sản, một số sản phẩm phụ thuộc rất lớn vào thị trường Trung Quốc, không ổn định, chưa tìm kiếm được thị trường xuất khẩu sang các nước khác nên có nhiều thời điểm người sản xuất gặp khó khăn rất lớn trong việc tiêu thụ sản phẩm; gia tăng cạnh tranh ngày càng khốc liệt; yêu cầu về chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm đòi hỏi ngày càng cao, sản phẩm cần phải có thương hiệu, chỉ dẫn địa lý. 
    - Thị trường tiêu thụ sản phẩm an toàn, chất lượng cao chưa hình thành rõ rệt, chưa tạo được niềm tin cho người tiêu dùng; đa số người tiêu dùng mới quan tâm đến giá cả của sản phẩm và cảm nhận trực quan, chưa có nhiều sản phẩm để quảng bá, tiêu thụ được chứng nhận sản xuất an toàn.
    - Các hình thức liên kết trong sản xuất còn lỏng lẻo, thiếu tính ràng buộc; quy mô, phạm vi liên kết còn nhỏ, người dân và doanh nghiệp chưa sẵn sàng thay đổi theo hướng quy mô lớn, liên kết chuỗi. Đất đai manh mún lại thuộc quyền sở hữu của nhiều hộ dân nên khó khăn cho việc tổ chức sản xuất thành vùng hàng hóa tập trung, trình độ kỹ thuật cũng như nhận thức của người dân còn nhiều hạn chế.


  • Người hỏi: Ban Biên tập
    Tái cơ cấu nông nghiệp phải gắn với thị trường, gắn sản phẩm chất lượng,  tuy nhiên lâu nay chúng ta chưa làm tốt điều này. Để phát triển nông nghiệp sạch theo hướng nông nghiệp công nghệ cao ở Lào Cai trên quy mô sản xuất hàng hóa lớn, làm thay đổi tập quán kinh tế của người dân mang lại hiệu quả kinh tế cao, Sở NN - PTNT có những kiến nghị nào về chính sách chính sách pháp luật, thưa ông?
    Nguyễn Anh Tuấn - Giám đốc Sở Nông nghiệp & PTNT
    Trước hết Sở Nông nghiệp và PTNT xin cảm ơn đại biểu đã quan tâm và gửi câu hỏi. Về câu hỏi của đại biểu Sở NN&PTNT xin được trả lời như sau:
    Phát triển nông nghiệp công nghệ cao theo chuỗi giá trị gắn với thị trường là một trong những định hướng đúng đắn luôn được Ngành nông nghiệp Lào Cai quan tâm trong tái cơ cấu ngành; Để làm tốt nhiệm vụ này cần có sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, trong đó chú trọng mối  liên kết 5 nhà “Nhà nước - Nhà khoa học - Nhà nông - Nhà doanh nghiệp và Nhà băng (ngân hàng)”, Sở Nông nghiệp và PTNT kiến nghị một số nội dung như sau:
    Một là: Do yếu tố đất đai sản xuất chi phối lớn đến thúc đấy phát triển sản xuất, thu hút đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao. Đề nghị tỉnh cho phép một số huyện (như Sa Pa, Bát Xát, Bắc Hà) thí điểm thực hiện cơ chế chính quyền đứng ra thuê đất của nông dân để tích tụ đất đai (như giao cho UBND huyện thực hiện việc thuê lại đất của nhân dân sau đó cho tổ chức, doanh nghiệp thuê lại để tổ chức sản xuất). Tăng cường quản lý sử dụng tài nguyên đất theo quy hoạch, tổ chức cá nhân không sản xuất hoặc sử dụng không đúng mục đích thì địa phương được phép thu hồi để tổ chức sản xuất theo đúng quy hoạch; tổ chức quy hoạch chi tiết đối với 02 khu nông nghiệp công nghệ cao của tỉnh (theo Quyết định 1537/QĐ-UBND ngày 26/5/2016 của UBND tỉnh Lào Cai) làm cơ sở quản lý, kêu gọi thu hút doanh nghiệp vào đầu tư phát triển sản xuất.
    Hai là: Tiếp tục hỗ trợ kinh phí xây dựng các mô hình điểm sản xuất nông nghiệp ứng dụng CNC, làm hạt nhân để tuyên truyền, mở rộng chuyển giao kỹ thuật, công nghệ canh tác nông nghiệp công nghệ cao trên địa bàn tỉnh.  
    Ba là: Triển khai thực hiện hiệu quả Quyết định 143/2016/QĐ-UBND ngày 20/12/2016 về chính sách khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản trên địa bàn tỉnh, nhằm thúc đẩy Doanh nghiệp tham gia mạnh mẽ hơn trong thực hiện Đề án số 01 về Tái cơ cấu Ngành nông nghiệp tỉnh Lào Cai giai đoạn 2016 - 2020.
    Bốn là: Tiếp tục đề xuất với trung ương có cơ chế chính sách nhằm khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, điều chỉnh bổ sung Nghị định 210/2013/NĐ-CP về chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp để phù hợp với điều kiện vùng khó khăn như Lào Cai.
    Năm là: Đã có cơ chế chính sách thì cần có kế hoạch cân đối bố trí nguồn lực để thực hiện hỗ trợ; xem xét điều chỉnh trình tự, thủ tục hành chính để tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình triển khai thực hiện chính sách theo phương thức hỗ trợ sau đầu tư.


  • Người hỏi: Trần Thị Hường - thuhuong83lc@gmail.com
    Được biết, hiện nay rất nhiều doanh nghiệp nhập khẩu thuốc BVTV từ Trung Quốc. Vậy đâu là nguyên nhân dẫn đến thực tế trên, thưa Ông?
    Nguyễn Anh Tuấn - Giám đốc Sở Nông nghiệp & PTNT
    Việc cho phép các tổ chức, cá nhân nhập khẩu nguyên liệu, thuốc BVTV thương phẩm thuộc trách nhiệm quản lý của Cục BVTV - Bộ Nông nghiệp và PTNT. Trên địa bàn tỉnh Lào Cai hiện nay không có doanh nghiệp nào đăng ký nhập khẩu thuốc BVTV. Tuy nhiên, trên địa bàn một số huyện vùng cao như Mường Khương, Bắc Hà, Si Ma Cai, Bát Xát đồng bào dân tộc thiểu số vùng giáp biên giới đi qua lối mòn, lối mở để mua bán, trao đổi và vận chuyển nhập lậu thuốc BVTV với số lượng ít để sử dụng hoặc bán tại các chợ phiên.
    Nguyên nhân dẫn đến việc nhập lậu thuốc BVTV của Trung quốc là do thuốc BVTV của TQ được sản xuất rất đa dạng, phong phú, nhiều chủng loại cho nhiều đối tượng cây trồng khác nhau, nên rất thuận lợi cho người dân lựa chọn. Nguyên nhân thứ hai là do giá thuốc BVTV của TQ rẻ hơn 30-40% so với các sản phẩm cùng loại khác bán trên thị trường. Thứ 3 là bà con nhân dân 2 bên biên giới giao thương thuận lợi.
    Để quản lý việc người dân buôn bán thuốc BVTV có nguồn Trung Quốc; trong thời gian tới, Ngành Nông nghiệp và PTNT tiếp tục phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan như công an, quản lý thị trường, biên phòng, hải quan và chính quyền địa phương, đặc biệt là các xã giáp biên tổ chức tuyên truyền, tập huấn, hướng dẫn, vận động nhân dân thực hiện đúng quy định của pháp luật về kinh doanh, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật. Tăng cường kiểm tra, phát hiện các trường hợp vi phạm để có biện pháp xử lý kịp thời.


  • Người hỏi: Trân Ngọc Hùng - Sa Pa – Lào Cai
    Hiện nay, có nhiều sản phẩm nông nghiệp giá trị kinh tế cao. Tuy nhiên, việc ứng dụng KHCN vào sản xuất chưa tương xứng, đặc biệt trong trồng trọt còn ít mô hình tiên tiến. Theo ông Nguyễn Anh Tuấn, đâu là giải pháp thúc đẩy phát triển?
    Nguyễn Anh Tuấn - Giám đốc Sở Nông nghiệp & PTNT
    Mục tiêu Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Lào Cai lần thứ XV, nhiệm kỳ 2015-2020 đặt ra cho ngành nông nghiệp nhiệm vụ rất nặng nề, đó là nâng giá trị sản xuất/ha đất canh tác đến năm 2020 đạt trên 80 triệu đồng/năm (năm 2015, giá trị sản xuất/ha đất canh tác mới đạt 51,42 triệu đồng/năm). Do đó, để đạt mục tiêu đề ra, ngành nông nghiệp tỉnh xác định đẩy mạnh áp dụng tiến bộ khoa học vào sản xuất; phát triển sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao là giải pháp then chốt. Hiện cũng đã có một số doanh nghiệp, hộ kinh doanh đầu tư sản xuất nông nghiệp theo hướng ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất (Rau, hoa, cây ăn quả, dược liệu) nhưng số lượng không nhiều vì thiếu đất để đầu tư; không đủ vốn để thực hiện; vấn đề hiệu quả đầu tư không cao do thị trường chưa chấp nhận. Ngoài ra theo kế hoạch ngành tham mưu triển khai xây dựng các mô hình để tuyên truyền, chuyển giao. Tuy nhiên khó khăn là: Nguồn lực xây dựng mô hình còn hạn chế; việc lựa chọn xây dựng mô hình cũng rất khó khăn vì phụ thuộc vào điều kiện các địa phương; trình độ sản xuất của các hộ nông dân; sự vào cuộc của chính quyền cơ sở; trách nhiệm của các hộ nông dân tham gia mô hình.
    Một số giải pháp chủ yếu trong thời gian tới cần tập trung thực hiện là đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức từ cán bộ đến người dân, doanh nghiệp nhằm chuyển dần từ sản xuất nông nghiệp truyền thống sang sản xuất hàng hóa, sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân về sản xuất an toàn đảm bảo vệ sinh thực phẩm. Có chính sách đẩy mạnh hỗ trợ các doanh nghiệp, hộ sản xuất kinh doanh mạnh dạn đầu tư sản xuất theo mô hình công nghệ cao, hỗ trợ triển khai hệ thống quảng bá, xúc tiến thương mại , tạo kênh phân phối hiệu quả.
    Ngành nông nghiệp mong muốn tiếp tục nhận được sự quan tâm chỉ đạo sát sao của Tỉnh ủy, UBND tỉnh; sự phối hợp hỗ trợ của các ngành đoàn thể tỉnh, sự vào cuộc quyết liệt tích cực của cấp ủy, chính quyền các địa phương cũng như sự ủng hộ đồng thuận của nông dân, sự tham gia của các doanh nghiệp sẽ góp phần thúc đẩy sản xuất nông nghiệp công nghệ cao của Lào Cai trong những năm tới.


  • Người hỏi: Nguyễn Ngọc Khoa - Tp Lào Cai
    Việc phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn có tiềm năng vô cùng to lớn. Bên cạnh đó, vai trò của doanh nghiệp trong lĩnh vực này lại vô cùng quan trọng, là khâu đột phá, mũi nhọn có tính chất quyết định. Vậy tại sao số lượng doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp sạch theo hướng công nghệ cao lại còn ít, chưa tương xứng với tiềm năng thế mạnh của Lào Cai?
    Nguyễn Anh Tuấn - Giám đốc Sở Nông nghiệp & PTNT
    Phần trả lời của ông: Nguyễn Anh Tuấn - Giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT
    Có thể kể đến một số khó khăn gặp phải trong quá trình tổ chức sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, số doanh nghiệp đầu tư ít như: 
    Nhận thức về sản xuất nông nghiệp công nghệ cao của một số cán bộ và đại bộ phận nông dân còn hạn chế; nhận thức của người dân chưa cao nên việc tiếp cận với khoa học kỹ thuật gặp khó khăn; 
    Các hình thức tổ chức sản xuất như hợp tác xã, tổ hợp tác còn chưa nhiều, hoạt động kém hiệu quả; thiếu liên kết giữa doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ nông dân trong sản xuất nông nghiệp; thời gian qua ngành nông nghiệp và các địa phương đã triển khai một số mô hình liên kết sản xuất giữa người dân và doanh nghiệp nhưng không đạt được như mong muốn, do ý thức chấp hành cam kết hợp đồng của người dần không cao, thiếu lòng tin giữa nông dân và doanh nghiệp, hợp đồng liên kết sản xuất dễ bị phá vỡ… Vấn đề giải quyết tranh chấp hợp đồng liên kết khi bị phá vỡ chưa có biện pháp giải quyết cụ thể, ai đứng ra giải quyết?; xử lý bồi thường thiệt hại qua việc không thực hiện hợp đồng ra sao? 
    Mạng lưới cán bộ kỹ thuật mỏng, trình độ chưa đáp ứng được yêu cầu; thiếu nguồn lao động có trình độ chuyên môn cao; cấp ủy, chính quyền cơ sở một số địa phương chưa quyết liệt vào cuộc. Chính sách ưu đãi, thu hút các nguồn lực đầu tư vào sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao còn hạn chế, thiếu nguồn lực cho quá trình triển khai thực hiện; thị trường tiêu thụ sản phẩm an toàn, chất lượng cao chưa hình thành rõ nét; đầu tư  cho mạng lưới, hệ thống phân phối sản phẩm nông sản chưa được quan tâm đúng mức; chưa có nhiều doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư nông nghiệp. 
    Ngoài ra còn phải kể đến một số hạn chế như: Chưa có đơn vị tư vấn chuyên nghiệp về nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; dịch vụ cung ứng vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trên địa bàn tỉnh và các tỉnh lân cận chưa hình thành; vấn đề tích tụ đất đai, giải quyết đất đai cho doanh nghiệp thuê gặp nhiều trở ngại, nhất là công tác giải phóng mặt bằng kéo dài gây khó khăn cho doanh nghiệp đầu tư.

    Phần trả lời của ông:
     Đỗ Tiến Sỹ - Giám đốc Công ty TNHH MTV Traphaco

    Có thể kể đến một số khó khăn gặp phải trong quá trình tổ chức sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, số doanh nghiệp đầu tư ít như:
    Nhận thức về sản xuất nông nghiệp công nghệ cao của một số cán bộ và đại bộ phận nông dân còn hạn chế; nhận thức của người dân chưa cao nên việc tiếp cận với khoa học kỹ thuật gặp khó khăn;
    Các hình thức tổ chức sản xuất như hợp tác xã, tổ hợp tác còn chưa nhiều, hoạt động kém hiệu quả; thiếu liên kết giữa doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ nông dân trong sản xuất nông nghiệp; thời gian qua ngành nông nghiệp và các địa phương đã triển khai một số mô hình liên kết sản xuất giữa người dân và doanh nghiệp nhưng không đạt được như mong muốn, do ý thức chấp hành cam kết hợp đồng của người dần không cao, thiếu lòng tin giữa nông dân và doanh nghiệp, hợp đồng liên kết sản xuất dễ bị phá vỡ… Vấn đề giải quyết tranh chấp hợp đồng liên kết khi bị phá vỡ chưa có biện pháp giải quyết cụ thể, ai đứng ra giải quyết?; xử lý bồi thường thiệt hại qua việc không thực hiện hợp đồng ra sao?
    Mạng lưới cán bộ kỹ thuật mỏng, trình độ chưa đáp ứng được yêu cầu; thiếu nguồn lao động có trình độ chuyên môn cao; cấp ủy, chính quyền cơ sở một số địa phương chưa quyết liệt vào cuộc. Chính sách ưu đãi, thu hút các nguồn lực đầu tư vào sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao còn hạn chế, thiếu nguồn lực cho quá trình triển khai thực hiện; thị trường tiêu thụ sản phẩm an toàn, chất lượng cao chưa hình thành rõ nét; đầu tư  cho mạng lưới, hệ thống phân phối sản phẩm nông sản chưa được quan tâm đúng mức; chưa có nhiều doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư nông nghiệp.
    Ngoài ra còn phải kể đến một số hạn chế như: Chưa có đơn vị tư vấn chuyên nghiệp về nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; dịch vụ cung ứng vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trên địa bàn tỉnh và các tỉnh lân cận chưa hình thành; vấn đề tích tụ đất đai, giải quyết đất đai cho doanh nghiệp thuê gặp nhiều trở ngại, nhất là công tác giải phóng mặt bằng kéo dài gây khó khăn cho doanh nghiệp đầu tư.

  • Người hỏi: Ban Biên tập
    Trong thời gian gần đây UBND tỉnh Lào Cai đã ban hành nhiều chính sách ưu đãi đối với ngành nông nghiệp như: Quyết định số 55/2013/QĐ-UBND ngày 20/12/2013 về chính sách hỗ trợ việc áp dụng quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt trên địa bàn tỉnh Lào Cai giai đoạn 2014-2020; Quyết định số 44/2015/QĐ-UBND ngày 25/9/2015 về chính sách đặc thù khuyến khích, ưu đãi đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh Lào Cai, giai đoạn 2015-2020; Quyết định số 14/2016/QĐ-UBND ngày 08/3/2016 về chính sách phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Lào Cai giai đoạn 2016-2020.... hay mới đây là Quyết định 143/2016/QĐ-UBND ngày 20/12/2016 về về thực hiện chính sách khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản trên địa bàn tỉnh Lào Cai, giai đoạn 2017 – 2020. Vậy doanh nghiệp được hưởng lợi như thế nào từ những chính sách này?
    Đỗ Tiến Sỹ - Giám đốc Công ty TNHH MTV Traphaco Sa Pa
    -  Tính đến thời điểm hiện nay Công ty Traphacosapa cũng đã tiếp cận được nguồn kinh phí hỗ trợ này. Tuy nhiên nguồn đầu tư trực tiếp này còn rất ít, chưa đáp ứng được nhu cầu triển khai sản xuất.
    -  Đa phần nguồn kinh phí được đầu tư trực tiếp cho hộ dân thông qua các chương trình của UBND huyện Sa Pa, Bắc Hà, Bát Xát. Các đơn vị này là đơn vị chủ trì các dự án. Công ty đóng vai trò là đơn vị phối hợp và bao tiêu sản phẩm, hưởng lợi gián tiếp từ các chương trình.
    -  Các chính sách ưu đãi của Tỉnh đã góp phần thúc đẩy việc sản xuất nông nghiệp theo hướng công nghệ cao nói chung, đặc biệt công tác phát triển dược liệu của Công ty ngày càng được mở rộng.
  • Người hỏi: Ban Biên tập
    Hiện nay trên chuối liên kết giữa “Nhà nước – Nhà khoa học – Nhà doanh nghiệp – Nhà nông” của quý công ty có những thuận lợi và khó khăn gì?
    Đỗ Tiến Sỹ - Giám đốc Công ty TNHH MTV Traphaco Sa Pa
    -  Thuận lợi:
    + Về phía Nhà nước: Đã có các chủ trương từ TW đến địa phương về phát triển dược liệu như Bản quy hoạch 1976/QĐ-TTg theo đó Lào Cai là Tỉnh thuộc một trong tám vùng trọng điểm phát triển dược liệu của cả nước, Quyết định số 4478/QĐ-UBND của tỉnh Lào Cai – Quy hoạch phát triển dược liệu Tỉnh Lào Cai.
    Các huyện Sa Pa, Bắc Hà, Bát Xát cũng đã có kế hoạch phát triển dược liệu tại địa phương.
    + Về phía Nhà khoa học:Có sự liên kết, ủng hộ của các cơ quan nghiên cứu đóng trên địa bàn trong công tác nghiên cứu phát triển giống, xây dựng quy trình sản xuất.
    + Về phía Nhà nông: Một số vùng đã có kinh nghiệm trong phát triển trồng dược liệu. Đa số các hộ dân có sự tin tưởng và ủng hộ công cuộc phát triển dược liệu của Công ty.
    + Về phía Doanh nghiệp:Công ty có được sự ủng hộ từ Công ty mẹ - Cty CP Traphaco về nguồn vốn, nhân lực và bao tiêu sản phẩm đầu ra ổn định. Ngoài ra các nhà khoa học của Công ty đã vận dụng sáng tạo và linh hoạt các mô hình phát triển phù hợp với các địa bàn trong tỉnh.
    -  Khó khăn:
    + Về phía Nhà nước: Thiếu chính sách cụ thể về phát triển dược liệu đối với doanh nghiệp.
    + Về phía Nhà khoa học:Thiếu đầu tư chiều sâu vào công tác nghiên cứu nên việc áp dụng các kết quả nghiên cứu còn nhiều hạn chế.
    + Về phía Nhà nông: Đa phần hộ dân tham gia trồng dược liệu là đồng bào dân tộc ít người nên có có những hạn chế nhất định trong việc tiếp nhận và ứng dụng các quy trình trồng trọt và sơ chế.
    + Về phía Doanh nghiệp: Công ty chưa có diện tích đất trồng để chủ động nghiên cứu phát triển giống dược liệu và xây dựng các mô hình trình diễn (Quy trình trồng trọt, mô hình ứng dụng công nghệ mới trong sản xuất, mô hình ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất)
  • Người hỏi: Ban Biên tập
    Hiện nay công ty ông chủ yếu làm việc với người nông dân ở các vùng trồng nguyên liệu. Ông đánh giá thế nào về lực lượng này? Và nếu chúng ta có những chính sách đặc thù riêng cho đội ngũ này, liệu họ có thể trở thành những người sản xuất nông nghiệp ứng dụng cao như nông dân các nước tiên tiến không?
    Đỗ Tiến Sỹ - Giám đốc Công ty TNHH MTV Traphaco Sa Pa
    - Hiện tại vùng nguyên liệu của Công ty Traphacosapa tập chung tại các huyện như: Sa Pa, Bắc Hà, Bát Xát;  90% đối tác trồng trọt và thu hái dược liệu của Công ty là đồng bào dân tộc thiểu số (Trong đó: Phần lớn là người H’mông, sau là Dao, Tày).
    - Khi mới bắt đầu triển khai, theo đánh giá của Công ty lực lượng này có trình độ canh tác, tập quán tương đối lạc hậu: Họ chỉ biết trồng lúa (01 vụ), trồng ngô hoặc sắn. Dược liệu thì chỉ thu hái từ tự nhiên, chưa trồng cấy bao giờ.
    - Công ty đã tập chung huy động các nguồn lực để thực hiện các hoạt động đào tạo, tập huấn và hướng dẫn cho người dân với phương châm “Cầm tay chỉ việc”. Trung bình 1 năm Công ty tổ chức không dưới 4 buổi tập huấn cho mỗi cho mỗi hộ dân (Hình thức tập huấn dưới 2 dạng: Tập huấn tập chung và tập huấn tại đồng ruộng), hộ dân thường xuyên được thăm quan học hỏi các mô hình sản xuất tiêu biểu, đạt chuẩn.
    - Cán bộ kỹ thuật chuyên trách của Công ty thường xuyên tới hộ dân kiểm tra, giám sát, hỗ trợ kỹ thuật.Nhờ vậy hiện nay đội ngũ này đã được nâng cao đáng kể về trình độ kỹ thuật canh tác. Hầu như các công đoạn sản xuất người dân đã tự chủ động được (Minh chứng là vùng trồng Actiso và Chè dây của Công ty đã được chứng nhận GACP – WHO “Thực hành tốt trồng trọt và thu hái cây thuốc theo khuyến cáo của tổ chức y tế thế giới”,
    Như vậy có thể thấy người nông dân hoàn toàn có khả năng ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp nếu chúng ta thực hiện tốt công tác đào tạo tập huấn, hỗ trợ họ trong quá trình thực hiện.

  • Người hỏi: Đỗ Thu Hồng - Kim Tân – TP.Lào Cai
    Được biết hiện nay ngoài vùng trồng Actisô Sa Pa, quý công ty đang tiếp tục triển khai trồng một số dược liệu khác như: Đương quy, Chè dây, Đẳng sâm tại các huyện Bắc Hà và Bát Xát với diện tích lớn. Vậy làm thế nào để kiểm soát được chất lượng sản phẩm?
    Đỗ Tiến Sỹ - Giám đốc Công ty TNHH MTV Traphaco Sa Pa

    Có thể thấy rằng vùng nguyên liệu của Công ty trải trên địa bàn rộng, cách xa nhà máy. Để kiểm soát quá trình triển khai và chất lượng sản phẩm.

    -  Công ty có kế hoạch dài hạn về quản lý chất lượng, áp dụng hệ thống quản lý chất lượng GACP – WHO:
    + Công ty có riêng một bộ phận chuyên trách Quản lý vùng trồng với các cán bộ có trình độ chuyên môn. Bộ phận này chịu trách nhiệm chính trong công tác tuyên truyền, đào tạo, tập huấn, hỗ trợ kỹ thuật và giám sát quá trình thực hiện.

    + Ngoài bộ phận chuyên trách Quản lý vùng nguyên liệu Công ty đã chủ động xây dựng hệ thống cộng tác viên để hỗ trợ trong việc kiểm soát chất lượng. Đối tác Cộng tác viên được tập chung là các cán bộ thường xuyên tiếp xúc với hộ dân, vùng trồng đó là Khuyến nông viên các xã, nhân viên Trạm trồng trọt và BVTV, Nhân viên Trạm khuyến nông, cán bộ nghiên cứu của các trung tâm chuyên về nông nghiệp khác.

    + Đặc biệt Công ty thực hiện ký hợp đồng trực tiếp với hộ dân, trong đó hộ dân phải cam kết tuân thủ theo các tiêu chuẩn GACP – WHO. Nếu vi phạm Công ty kiên quyết không bao tiêu sản phẩm.

    + Trong quá trình triển khai khác hoạt động Công ty cũng xây dựng mối liên kết chặt chẽ với cơ quan nhà nước tại địa phương trong các công tác xây dựng Quy hoạch vùng trồng, lựa chọn hộ dân và tuyên truyền cho người dân tuân thủ các quy trình kỹ thuật; yêu cầu của an toàn vệ sinh trong trồng trọt và thu hái dược liệu.

    + Hàng năm với mỗi loại dược liệu Công ty đều có hoạt động tổng kết, đánh giá quá trình triển khai. Tặng quà và khen thưởng với các hộ sản xuất tốt để khích lệ tinh nhần, nhắc nhở và phê bình những hộ chưa tuân thủ giúp họ nhìn ra điểm chưa được của mình, hướng dẫn cách khắc phục các vụ tiếp theo.


  • Người hỏi: Ban Biên tập
    Thưa ông, có ý kiến cho rằng các sản phẩm của Traphaco Sa Pa khá đa dạng và phong phú. Tuy nhiên khách hàng chủ yếu là người tiêu dùng trong nước và chưa tạo được tiếng vang  trên thị trường Quốc tế vậy trong thời gian tới công ty cần phải làm gì?
    Đỗ Tiến Sỹ - Giám đốc Công ty TNHH MTV Traphaco Sa Pa
    -  Chiến lược của Công ty tập chung vào thị trường trong nước với mục tiêu “Thuốc nam cho người Việt”, làm tốt việc này sẽ là điểm đột phá để vươn ra thị trường Quốc tế
    -  Các dược phẩm có rào cản kỹ thuật rất lớn, đòi hỏi nhà nước hỗ trợ Công ty nhiều hơn nữa trong việc nghiên cứu sâu về các tiêu chuẩn của cây thuốc và sản phẩm phù hợp với các tiêu chuẩn của Quốc tế.
    -  Hiện nay một số dược liệu của Công ty đã đạt tiêu chuẩn Quốc tế: GACP – WHO với dượcliệu Actiso, Chè dây.
    -  Dược liệu Actiso, Chè dây, Giảo cổ lam đạt tiêu chuẩn UEBT (Liên minh thương mại sinh học có đạo đức)
    -  Thời gian gian tới Công ty sẽ tiếp tục xây dựng các chuỗi dược liệu khác đạt tiêu chuẩn GACP – WHO như: Dược liệu Đương quy, dược liệu Đan sâm,….
  • Người hỏi: Ban Biên tập
    Từ kinh nghiệm trong lĩnh vực kinh doanh và phát triển sản xuất của Công ty TNHH MTV Traphaco Sa Pa, xin ông chia sẻ những khó khăn trong chuyển đổi sản xuất và phát triển nông nghiệp sạch thu hút đầu tư cho lĩnh vực quan trọng này?
    Đỗ Tiến Sỹ - Giám đốc Công ty TNHH MTV Traphaco Sa Pa
    Những khó khăn:
    -  Đa phần người nông dân chưa hiểu được thế nào là nông nghiệp sạch nên việc chuyển đổi và thực hiện sản xuất gặp nhiều khó khăn. Công ty đã phải đầu tư nhiều thời gian, công sức và chi phí để truyền thông, đào tạo, tập huấn để người dân thay đổi tập quán canh tác truyền thống.
    -  Chưa có cơ chế chính sách hữu hiệu bảo vệ thương hiệu sản phẩm.
    -  Khó tiếp cận nguồn vốn đầu tư để chuyển đổi và phát triển nông nghiệp sạch.
  • Người hỏi: Ban Biên tập
    Trong quá trình phát triển nông nghiệp sạch theo hướng công nghệ cao, Công ty có gặp những khó khăn, thách thức gì không, thưa ông? Và muốn tồn tại lâu dài thì các doanh nghiệp cần phải có một quy trình sản xuất, sự liên kết và sản xuất theo chuỗi, đặc biệt phải có sự đầu tư và quy mô sản xuất như thế nào, thưa ông?
    Đỗ Tiến Sỹ - Giám đốc Công ty TNHH MTV Traphaco Sa Pa
    Những khó khăn thách thức:
    -  Khó khăn về giống phục vụ sản xuất: Hiện chưa có đơn vị cung ứng giống đáp ứng tiêu chuẩn. Nguồn giống sử dụng hiện tại không đảm bảo về năng suất và chất lượng. Nguồn cung ứng giống rất hạn chế, không đủ nhu cầu.
    -  Chưa có quy hoạch cụ thể, chi tiết về vùng sản xuất nông nghiệp công nghệ cao.
    -  Cạnh tranh giá cả: Sản phẩm nông nghiệp sạch bị cạnh tranh bởi sản phẩm kém chất lượng.
    -  Vùng sản xuất dược liệu của Công ty chủ yếu tại các huyện vùng cao như Bắc Hà, Sa Pa, Bát Xát.
    + Địa hình núi non hiểm trở: Giao thông đi lại khó khăn.
    + Đất đai manh mún nhỏ lẻ, độ dốc lớn, thiếu mặt bằng để triển khai công nghệ cao.
    -  Trình độ dân trí và nhận thức của đồng bào còn hạn chế: Do đa phần là người dân tộc thiểu số. Sản lượng và chất lượng dược liệu còn thấp.
    -  Thiếu vốn đầu tư: Để phát triển nông nghiệp công nghệ cao, trước tiên phải có vốn đầu tư lớn cho việc xây dựng kết cấu hạ tầng, xử lý môi trường, đầu tư giống cây trồng, vật nuôi, đào tạo người lao động, giới thiệu và tiêu thụ sản phẩm,… Nguồn vốn đầu tư hiện tại của Công ty phần lớn được trích từ lợi nhuận kinh doanh hoặc kêu gọi đầu tư của các tổ chức phi chính phủ, chưa đáp ứng được yêu cầu.
    -   Khó khăn về thị trường tiêu thụ sản phẩm: Sản xuất nông nghiệp công nghệ cao sẽ tạo ra một số lượng dược liệu lớn. Hiện nay các sản phẩm dược liệu của Công ty chủ yếu cung cấp cho Công ty mẹ - Cty Cp Traphaco. Sản phẩm bán ra chủ yếu mới chỉ ở dạng thô, sơ chế, giá trị gia tăng thấp. Người tiêu dùng chưa nhận thức được vai trò của dược liệu sạch. Sự quảng bá chưa được các cơ quan truyền thông quan tâm.
    -  Khó khăn về cơ chế hỗ trợ, ưu đãi: Cơ quan quản lý chưa có cơ chế ưu đãi hợp lý với dược liệu sạch, dược liệu ứng dụng công nghệ cao. Chưa có chính sách bảo vệ, khuyến khích người sản xuất dược liệu sạch.
    · Muốn tồn tại lâu dài thì các doanh nghiệp cần phải có một quy trình sản xuất, sự liên kết và sản xuất theo chuỗi, đặc biệt phải có sự đầu tư và quy mô sản xuất như thế nào?
    Chuỗi giá trị: Từ người nông dân sản xuất cung cấp dược liệu cho Công ty Traphacosapa sau đó Công ty thực hiện sản xuất và cung cấp nguyên liệu cho Công ty CP Traphaco để sản xuất các sản phẩm thuốc, dược phẩm. Quy mô sản xuất phụ thuộc vào nhu cầu thị trường
  • Người hỏi: Ban Biên tập
    Từ phía doanh nghiệp, người sản xuất, thưa ông Giám đốc Công ty TNHH MTV Traphaco Sa Pa, ông có kiến nghị điều gì gỡ bỏ vướng mắc, thúc đẩy nông nghiệp sạch mở rộng và phát triển?
    Đỗ Tiến Sỹ - Giám đốc Công ty TNHH MTV Traphaco Sa Pa
    Căn cứ những khó khăn thì cần có những giải pháp cụ thể:
    -  Giải pháp về giống: Cần tăng cường các chương trình trọng điểm nghiên cứu sản xuất giống.
    -  Giải pháp Quy hoạch: Cần có quy hoạch cụ thể, chi tiết và dài hạn. Xác định vùng chuyên canh trên cơ sở nghiên cứu các điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng thích hợp cho từng loại cây trồng.
    -  Giải pháp về thị trường: Cần có sự vào cuộc của cơ quan truyền thông để thông tin cho người tiêu dùng hiểu được vai trò của nông nghiệp sạch, dược liệu sạch. Nhà nước cần hỗ trợ giá để tạo động lực, tăng sức cạnh tranh cho sản phẩm sạch
    -  Giải pháp về vốn đầu tư: Cần có chính sách khoán về tài chính cho các nhiệm vụ khoa học công nghệ ứng dụng trong nông nghiệp. Cần có nhiều chương trình đầu tư cho người dân thông qua Doanh nghiệp để quản lý sử dụng nguồn vốn có hiệu quả.
    -   Giải pháp về nguồn nhân lực: Cần có các lớp đào tạo nâng cao trình độ kiến thức, trình độ kỹ thuậtvề nông nghiệp sạch cho người dân và cán bộ quản lý vùng trồng.
    -  Giải pháp về cơ chế hỗ trợ, ưu đãi (Chính sách): Cần có cơ chế ưu đãi hợp lý với nông nghiệp sạch, dược liệu sạch, dược liệu ứng dụng công nghệ cao. Có chính sách bảo vệ, khuyến khích người sản xuất dược liệu sạch, dược liệu có nguồn gốc xuất sứ rõ ràng. 

  • Người hỏi: Ban Biên tập
    Trong quá trình phát triển nông nghiệp sạch theo hướng công nghệ cao, Công ty có kiến nghị cụ thể gì về chính sách, thưa ông?
    Đỗ Tiến Sỹ - Giám đốc Công ty TNHH MTV Traphaco Sa Pa
    Kiến nghị về chính sách:
    -  Ưu đãi về vay vốn với doanh nghiệp phát triển nông nghiệp sạch dược liệu (Nông nghiệp công nghệ cao): Vay vốn lãi suất thấp, vốn vay dài hạn,…
    -  Ưu đãi về thuế: Miễn giảm thuế đối với doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp, dược liệu.
    -  Chính sách hỗ trợ sản xuất: Ưu tiên dự án, nguồn đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao.
    -  Hỗ trợ Doanh nghiệp trong việc đăng ký sở hữu trí tuệ.
    -  Ưu tiên các chương trình xúc tiến thương mại với sản phẩm nông nghiệp sạch, dược liệu sạch ứng dụng công nghệ cao.
    -  Ưu đãi đấu thầu thuốc từ dược liệu sạch vào các bệnh viện, cơ sở khám chữa bệnh.
Đăng nhập
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 2
  • Trong tuần: 184
  • Tất cả: 54,104